FacebookTwitterYoutubeLinkedin
GCN Vinhthinh Biostadt JSC
20 nam Environ-ACThả tôm thẻ chân trắng VTBHGiống tôm thẻ chân trắng VTBHUong veo RacewayBMPSản phẩm Nông NghiệpWokozim đã được sử dụng trên 40 loại cây trồng và hơn 20 quốc gia trên thế giới3 lần liên tiếp đạt Top 10 Chất lượng vàng Thủy Sản Việt NamLiên doanh giữa Vinhthinh & tập đoàn Biostadt -Ấn ĐộVinhthinh BiostadtVTBH 3
Trang chủ Trang chủTin tứcSẢN XUẤT GIỐNG CÁ, TÔMSử dụng thức ăn sớm ở giai đoạn ấu trùng: Thực tế và xu hướng

Sử dụng thức ăn sớm ở giai đoạn ấu trùng: Thực tế và xu hướng

Hàng tỷ luân trùng và Artemia được sử dụng hàng ngày để duy trì sản xuất giống thủy sản trên toàn thế giới. Con mồi sống mang lại nhiều lợi ích cho ấu trùng ở giai đoạn đầu, lợi thế hàng đầu của nó là nâng cao chất lượng và dễ dàng làm sạch môi trường. Con mồi sống như luân trùng và Artemia có giá trị dinh dưỡng tối ưu nhưng đây cũng là những nguy cơ tiềm ẩn cho các tác nhân gây bệnh ảnh hưởng đến năng suất trong sản xuất ấu trùng.

Do đó, việc sản xuất thức ăn thay thế luân trùng và Artemia đã trở thành ưu tiên đối với nhiều nhà sản xuất thức ăn thủy sản trong vài thập kỷ qua. Sử dụng thức ăn thay thế con mồi sống đang trở thành hiện thực đối với nhiều loài nuôi, theo những tiến bộ và phát triển trong nghiên cứu dinh dưỡng thì thức ăn thay thế con mồi sống vẫn duy trì sự phát triển tốt của ấu trùng và đạt tỉ lệ sống cao.

Ở lần cho ăn đầu tiên, khả năng bắt mồi của ấu trùng là vô cùng hạn chế do liên quan đến tính chất vật lý của thức ăn. Các tiêu chí như độ phân tán ở bề mặt và độ trôi nổi để đảm bảo sự phân bố đồng đều của các hạt dọc theo mặt nước, cho phép ấu trùng bắt mồi suốt cả ngày. Tuy nhiên, việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trở nên khó khăn hơn khi các hạt nhỏ hơn (100-200µm), thức ăn này có xu hướng hòa tan các chất dinh dưỡng quan trọng trong nước do tỷ lệ tiếp xúc bề mặt cao.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự phát triển của công nghệ R&D và đã đạt được nhiều kết quả đáng chú ý trong việc sử dụng thức ăn thay thế nhắm vào các loài sinh vật được nuôi ở Châu Âu như là cá lưỡi trâu, cá cam, cá chẽm. Dựa vào kết quả đạt được từ các loài này có thể phát triển sang các loài tương tự được nuôi ở châu Á.

Sử dụng thức ăn sớm ở cá lưỡi trâu: trường hợp nghiên cứu cho loài cá dẹt

Nuôi ấu trùng cá lưỡi trâu (Hình 1) là một trường hợp nghiên cứu thú vị, các quy trình nuôi đã được xuất bản thành công cho loài này và hiện nay đã được chuẩn hóa khá kỹ lưỡng, cá con được sản xuất thường xuyên với tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao. Tuy nhiên, những thành tựu này là khá gần đây và một số thách thức vẫn còn, như sử dụng thức ăn ngay giai đoạn mở miệng. Trong thập kỷ qua, một nỗ lực nghiên cứu lớn đã được thực hiện nhằm cải thiện một loại thức ăn phù hợp đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng.



Hình 1 - Cá Lưỡi trâu, cá bột (trái) và cá trưởng thành (phải)

Mười năm trước, đây là quy trình chuẩn để cho ăn theo ngày tuổi (không phải trọng lượng) trong chiến lược hợp tác. Chiến lược này không thúc đẩy khả năng tiêu hóa và tỷ lệ sống rất thấp. Tỷ lệ sống tăng lên khi thay đổi quy trình cho ăn kết hợp sử dụng công thức dinh dưỡng mới, nhưng chỉ khi áp dụng sau khi ấu trùng đạt 5 đến 10 mg trọng lượng khô. Nếu ấu trùng có trọng lượng ít hơn, cũng cho ăn là một lựa chọn tốt.

Sau những sửa đổi cải tiến công thức dinh dưỡng, trọng lượng và tỷ lệ sống đã được cải thiện một cách rõ ràng, nhường chỗ cho những nghiên cứu mới phát triển, như sử dụng sử dụng một quy trình cho ăn ngay giai đoạn mở miệng. Thành phần dinh dưỡng thức ăn sống được coi là không tối ưu đối với ấu trùng các lưỡi trâu về mặt chất lượng. Sử dụng thức ăn thay thế để bổ sung thức ăn sống là một giải pháp để đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng. Các nghiên cứu (công nghệ xây dựng và sản xuất) cho ra một loại thức ăn thương mại được bắt đầu và được thực hiện trong vài năm qua. Kết quả đầu tiên rất hứa hẹn cho việc giảm đáng kể hoặc thậm chí thay thế hoàn toàn con mồi sống.

Trong những năm gần đây, hai thử nghiệm đã xác nhận sự tiến bộ trong việc sử dụng thức ăn sớm ở cá lưỡi trâu. Trong thử nghiệm đầu tiên, ấu trùng được cho ăn ngay sau khi ổn định (16 ngày sau khi nở), chỉ cung cấp 20%  Aretmia cho quá trình thử nghiệm ở thời điểm (23 ngày sau khi nở). Ấu trùng để đối chứng sẽ áp dụng chế độ ăn mới ở thời điểm (25 ngày sau khi nở) và sử công thức dinh dưỡng quan trọng. Ở thời điểm (60 ngày sau khi nở), trọng lượng khô của ấu trùng khi sử dụng thức ăn sớm cao hơn 25% (184 so với 137 mg). Tỷ lệ sống cũng cao hơn khi sử dụng thức ăn thay thế ở độ tuổi sớm (73% so với 56%).

Trong thử nghiệm thứ hai, một quy trình cho ăn táo bạo hơn đã được áp dụng, với ấu trùng cho ăn đầu tiên được cho ăn chế độ ăn thương mại và chỉ có 65% Artemia được cung cấp để thực hiện thử nghiệm. Ở thời điểm 58 ngày sau khi nở, không có sự khác biệt lớn nào giữa các phương pháp thử nghiệm về trọng lượng khô của ấu trùng (181 mg so với 148 mg), tỷ lệ sống (34% so với 46%). Những hạn chế này cho thấy rằng lợi ích trong sản xuất giống cá lưỡi trâu từ việc sử dụng sớm bằng thức ăn thay thế chất lượng cao trong quy trình cho ăn (Hình 2).


Hình 2 - Bắt đầu cho ăn tại thời điểm sau khi nở và ngày để đạt được trọng lượng 1g trên cá lưỡi trâu, kết quả thể hiện sự tiến bộ về chất lượng của thức ăn thay thế trong những năm qua

Tuy nhiên, cũng rõ ràng rằng việc sử dụng thức ăn  sớm ở lần cho ăn đầu tiên sẽ chỉ có thể xảy ra ở quy mô thương mại khi tỷ lệ sống của ấu trùng đạt mức cao. Do đó, việc tăng khả năng bắt mồi trong giai đoạn cá bột là bắt buộc bằng cách tối ưu hóa tính chất vật lý của các hạt trong nước. Thiết kế hạt thức ăn làm sao các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước giảm xuống dường như cũng là một bước tiến, với việc sử dụng màng bọc là công nghệ  hàng đầu để vượt khó khăn trên nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng trong việc nuôi ấu trùng.

Sử dụng thức ăn sớm ở ấu trùng cá biển

Ở đây chúng tôi chỉ ra cách sử dụng thức ăn thay thế dựa trên các công thức và công nghệ được tối ưu hóa mang lại hiệu quả tốt hơn. Ấu trùng cá chẽm đã được chứng minh bằng thử nghiệm sử dụng thức ăn ở thời điểm  20 sau khi nở, mức tăng trưởng cao hơn 20% khi chế độ ăn nhiều lipit (22%) và được cho ăn trong khoảng thời gian 26 ngày, so với một nguồn thức ăn có công thức rất giống nhau ngoại trừ mức lipid thấp hơn (16%). Hơn nữa, tỷ lệ sống cũng cao hơn ở ấu trùng được nuôi bằng thức ănt lipid cao. Trên cá cam, kết quả từ các thử nghiệm cho thấy một thức ăn có lipid cao dẫn đến trọng lượng cá tăng từ 20 đến 40% so với thức ăn mức lipid thấp hơn. Những kết quả này cho thấy rằng đối với ít nhất một số loài, thức ăn cho ấu trùng nên có hàm lượng lipid cao hơn bình thường.

Một nỗ lực gần đây để đạt kết quả trong việc sử dụng thức ăn sớm trên cá chẽm đã khiến SPAROS Lda tạo ra một nguyên mẫu vi mô mới để giảm hòa tan các chất dinh dưỡng tan trong nước. Nguyên mẫu đó có thể làm giảm quá trình lọc protein hòa tan trong nước tới 65% sau 2 giờ ngâm (Hình 3). Với thành tích đạt được, nguyên mẫu này đã được đưa vào một công thức chế biến thức ăn thương mại và được thử nghiệm trên ấu trùng cá chẽm ở giai đoạn mở miệng trở đi.



Hình 3 - Lọc protein hòa tan trong nước bằng các nguyên mẫu bao bọc và không bao bọc được sản xuất bằng công nghệ sấy phun

Ấu trùng được cho ăn bằng con mồi sống và thức ăn thay thế khi mở miệng. Ba chế độ ăn đã được thử nghiệm, một thử nghiệm (8,5 hoặc 30% nguyên mẫu vi nang mới). Quy trình cho ăn được điều chỉnh để bao gồm  50% con mồi sống (luân trùng và artemia) và thức ăn thay thế được đưa ra gần với mức bão hòa, dựa trên sự tăng trưởng tối đa dự đoán và đánh giá trực quan để tránh làm giảm chất lượng nước. Ấu trùng cá chẽm tại thời điểm 12 ngày sau khi nở có thể ăn thức ăn thay thế (nhìn thấy bằng mắt) và ngay cả khi có con mồi sống trong bể nuôi, số lượng ấu trùng được quan sát thấy thức ăn thay thế trong ruột nhiều hơn so với con mồi sống. Có thể thức ăn thay thế có ảnh hưởng đối với trọng lượng ấu trùng (Hình 4).



Hình 4 - Trọng lượng của cá chẽm 12 ngày sau khi nở được nuôi dưỡng theo ba quy trình, một chế độ ăn thương mại và chế độ ăn thử nghiệm chứa 8,5 hoặc 30% nguyên mẫu vi nang

Ấu trùng cho ăn thử nghiệm với thức ăn nguyên mẫu (8,5% và 30%). Đây là một dấu hiệu cho thấy có chỗ cho công nghệ thức ăn để mang lại sự cải thiện hơn nữa trong việc sử dụng thức ăn sớm ở ấu trùng cá biển.

Xu hướng trong tương lai

Những tiến bộ gần đây trong thức ăn ấu trùng và công thức dinh dưỡng là rất ấn tượng. Hy vọng rằng ấu trùng cá sẽ được nghiên cứu rõ hơn trong những năm tới. Ngành công nghiệp và công trình nghiên cứu ngày càng nhận thức được rằng dinh dưỡng sớm là yếu tố chính trong việc xác định chất lượng ấu trùng và cá con. Hơn nữa, dinh dưỡng dưới mức tối ưu ở giai đoạn đầu đời có thể có tác động lâu dài đến tiềm năng tăng trưởng, dị dạng, khả năng chống chịu và bệnh tật. Những lợi ích có thể thấy trước khi đầu tư vào nghiên cứu dinh dưỡng ấu trùng phần lớn biện minh cho đầu tư cần thiết. Khi sự hiểu biết của chúng ta về nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng tiến triển cùng với các công nghệ thức ăn mới, các thành phần mới dễ tiêu hóa, kết quả sẽ là các thức ăn hiệu suất cao cho giai đoạn đầu của cá, bao gồm sử dụng thức ăn sớm ngay ban đầu. Điều này sẽ mang lại chu kỳ sản xuất ngắn hơn và cá chất lượng cao hơn để thả trong bể / lồng.

Nguồn: https://issuu.com

Người dịch: Kỹ sư Lê Quang Quý – Công ty Vinhthinh Biostadt

Trở về
Thông tin khác

Sản phẩm tiêu biểu

Hỗ trợ trực tuyến

  • Kỹ thuật và sản phẩm nuôi tôm Vinhthinhbiostadt Mrs Sinh - 0914 392 117
  • Kỹ thuật và sản phẩm ương tôm Mr.Tường - 0913 719 246; Mr.Sơn - 0907 840 968
  • Giống tôm thẻ chân trắng Ms Nương - 0912 082 117
  • Kỹ thuật và sản phẩm nông nghiệp Mr. Lân - 0913 896 117
  • Kỹ thuật và sản phẩm dành cho sản xuất giống Mr. Tuấn - 0964 281 751
  • Kỹ thuật và sản phẩm nuôi cá, tôm càng xanh Mr. Pha: 0913 472 117
  • Kỹ thuật và sản phẩm nuôi tôm line Ecostar Mr Viet 0918 463 117 ; Mr Dương 0915. 505.117
  • Marketing và xét nghiệm Ms. Kiều 0914 764 117
  • Kỹ thuật & sản phẩm nuôi tôm Công ty Bình Minh Mr. Việt - 0918.463.117 - Ms Tiên 0914.583.117
  • Kỹ thuật & sản phẩm nuôi tôm Công ty Tiên Phong Mr. Lợi - 0944.549.119

HOTLINE(028) 3754 2464/ 028 3754 2881

Các đối tác của chúng tôi